Trang chủ Sức Khoẻ và Đời Sống Phân loại và chức năng của bạch cầu

Phân loại và chức năng của bạch cầu

45
0

Các tế bào bạch cầu còn được gọi là WBCs(White Blood Cells) hoặc bạch cầu. Chúng là những tế bào tạo nên phần lớn hệ miễn dịch của chúng ta, là một hệ thống phức tạp bảo vệ cơ thể chống lại tác nhân ngoại lai và các loại nhiễm trùng khác nhau. Bạch cầu được tạo ra trong tủy xương từ các tế bào đa nhân được gọi là các tế bào gốc tạo máu. Các tế bào bạch cầu tồn tại ở tất cả các bộ phận của cơ thể, bao gồm mô liên kết, hệ bạch huyết, và mạch máu. Có năm loại bạch cầu khác nhau, mỗi loại lại có chức năng khác nhau trong hệ miễn dịch. Vậy những loại bạch cầu và chức năng của bạch cầu là gì?chức-năng-của-bạch-cầu

Phân loại và chức năng của bạch cầu

Có hai loại bạch cầu khác nhau và mỗi loại có vẻ khác nhau dưới kính hiển vi. Chúng bao gồm 2 nhóm granulocytes và agranulocytes.

  • Bạch cầu hạt(Granulocytes)có thể nhìn thấy bên trong các tế bào có chức năng tế bào khác nhau. Các loại bạch cầu hạt bao gồm bạch cầu ái kiềm(bazophils), bạch cầu trung tính(neutrophil) và bạch cầu ái toan(eosinophil).
  • Bạch cầu không hạt(Agnulocytes) có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi và bao gồm các tế bào lympho(lymphocytes) và bạch cầu đơn nhân(monocytes).

Cùng nhau, các tế bào bach cầu phối hợp với nhau để chống lại những bệnh như ung thư, tổn thương tế bào, và các bệnh truyền nhiễm. Dưới đây là chức năng của từng loại bạch cầu.

các-loại-bạch-cầu
Các loại bach cầu
  1. Neutrophil(bạch cầu trung tính). Là loại bạch cầu phổ biến nhất trong cơ thể với mức từ 2000 – 7500 tế bào/mm3 máu. Neutrophil là các tế bào bạch cầu cỡ trung bình có các nhân bất thường và nhiều hạt có chức năng khác nhau trong tế bào.

    Chức năng: Neutrophil hoạt động bằng cách gắn vào thành mạch máu, ngăn chặn sự đi qua của vi trùng đang cố gắng xâm nhập vào máu thông qua vết thương hở ngoài da. Neutrophil(bạch cầu trung tính) là những tế bào đầu tiên có mặt ở khu vực mà cơ thể bị một vết thương hở như: vết rách hoặc cắt ngoài da. Neutrophil tiêu diệt mầm bệnh bằng cách ăn chúng và quá trình này gọi là “phagocytosis(thực bào)”. Bên cạnh việc ăn từng loại vi khuẩn, chúng cũng thải ra một lượng lớn oxit có khả năng giết nhiều vi khuẩn cùng một lúc. Nếu vết thương bị viêm nhiễm và có mủ thì màu vàng/trắng của mủ chính là do bạch cầu trung tính tạo nên.

  2. Lymphocytes(tế bào lympho)

    Tế bào lympho nhỏ, hình tròn có một nhân lớn trong một lượng nhỏ tế bào chất. Tế bào lympho có một chức năng quan trọng trong hệ miễn dịch, là thành phần chính trong hệ miễn dịch của cơ thể, là một phần của hệ miễn dịch có liên quan đến sản xuất kháng thể. Tế bào lympho thường bắt đầu sống ở mô bạch huyết, trong đó có lách, a-mi-đan, và hạch bạch huyết. Có khoảng 1300 đến 4000 lymphocytes trên mỗi mm3 máu.

    Chức năng: Tế bào lympho-B tạo ra các kháng thể, đây là một trong những bước cuối cùng của đề kháng bệnh. Khi các tế bào lympho-B tạo ra các kháng thể, chúng sẽ tiêu diệt các mầm bênh và sau đó tạo ra tế bào nhớ sẵn sàng để có thể hoạt động bất cứ lúc nào, nhớ lại một sự nhiễm trùng trước đó với một mầm bệnh cụ thể. Tế bào lympho-T là một loại tế bào lympho khác trong tuyến ức. Tuyến ức có chức năng làm biến đổi tế bào miễn dịch lympho-T từ dạng tế bào non thành tế bào trưởng thành và có chức năng miễn dịch. Các tế bào T mới thật sự tiêu diệt trực tiếp các tác nhân gây bệnh và thực hiện chức năng điều hòa hệ miễn dịch khi chúng đang ở trong tình trạng kém hoạt động hay hoạt động quá mức.

  3. Monocytes(bạch cầu đơn nhân)

    Monocytes là loại tế bào bạch cầu lớn nhất. Chỉ có khoảng 200-800 monocytes/mm3 máu. Các tế bào monocytes là các agranulocytes, có nghĩa là chúng chỉ có môt vài hạt trong tế bào chất khi nhìn dưới kính hiển vi. Monocytes biến thành đại thực bào khi chúng thoát khỏi mạch máu.

    Chức năng: Khi là đại thực bào, các monocytes làm nhiệm vụ thực bào của bất kỳ loại tế bào chết nào trong cơ thể, dù đó là tế bào soma hay bạch cầu trung tính đã chết. Do kích thước lớn của chúng, chúng có khả năng tiêu hóa các phần tử lạ có kích thước lớn trong vết thương.

  4. Eosinophils(bạch cầu ái toan)

    Không có nhiều bạch cầu ái toan trong máu chỉ khoảng 40-400 tế bào/mm3 máu. Chúng có hạt lớn giúp các chức năng của tế bào. Bạch cầu ái toan đặc biệt quan trọng đối với các bệnh dị ứng và ký sinh trùng giun sán.

    Chức năng: Eosinophils làm việc bằng cách giải phóng độc tố trong hạt để diệt các mầm bệnh. Các mầm bệnh chính là các loại giun sán và ký sinh trùng. Số lượng bạch cầu ái toan cao có liên quan đến phản ứng dị ứng.

  5. Basophils(bạch cầu ái kiềm)

    Basophil là loại bạch cầu ít gặp nhất, chỉ với khoảng 0-100 tế bào/mm3 máu. Basophil có hạt lớn thực hiện các chức năng ít được biết đến. Bạch cầu ái kiềm rất dễ nhận ra dưới kính hiển vi khi được tiếp xúc với chất chỉ thị màu.

    Chức năng: Basophil có khả năng tiết ra chất chống đông và kháng thể có chức năng chống lại phản ứng quá mẫn cảm trong máu. Bạch cầu ái kiềm phản ứng ngay lập tức như là một phần hoạt động của hệ miễn dịch trong việc chống lại các tác nhân lạ xâm vào cơ thể. Basophil có chứa histamine, làm giãn các mạch máu để mang nhiều tế bào miễn dịch hơn tới những chỗ bị thương trên cơ thể.

loading...

Bình luận về bài viết

Hãy là người nhận xét đầu tiên

avatar
wpDiscuz